Sau khi agent biết đọc và trích rủi ro, bước tiếp theo là soạn thảo (drafting): viết nháp điều khoản thay thế, thư phản hồi đối tác, hoặc đề xuất chỉnh sửa (redline). Nguyên tắc xuyên suốt: agent tạo nháp có kiểm soát, không tạo văn bản cuối cùng gửi thẳng.
Ba dạng soạn thảo phổ biến
- Viết lại điều khoản (clause rewriting): từ điều khoản bất lợi -> phiên bản cân bằng hơn.
- Thư phản hồi đàm phán: giải thích vì sao đề nghị sửa điều X.
- Redline: đề xuất thêm/bớt/sửa cụ thể trên văn bản gốc.
Nguyên tắc vàng: soạn từ MẪU, không soạn từ trí nhớ
Đừng để model tự "nhớ" một điều khoản chuẩn — nó dễ bịa. Thay vào đó, cung cấp thư viện điều khoản mẫu (clause library) đã được luật sư duyệt, và bắt agent chọn/điều chỉnh từ đó.
SYSTEM: Soạn nháp điều khoản giới hạn trách nhiệm.
CHỈ dựa trên mẫu chuẩn dưới đây, điều chỉnh cho phù hợp ngữ cảnh.
KHÔNG tự sáng tạo cấu trúc pháp lý mới. Đánh dấu [CẦN LUẬT SƯ XÁC NHẬN]
tại mọi chỗ điền số/thời hạn.
MẪU CHUẨN (đã duyệt):
"Tổng trách nhiệm của mỗi Bên theo Hợp đồng này không vượt quá
[SỐ TIỀN] tương ứng [SỐ] tháng phí gần nhất..."
NGỮ CẢNH: hợp đồng SaaS 500 triệu/năm, muốn trần = 12 tháng phí.
Ví dụ output đúng chuẩn
> Điều 12.3 (đề xuất sửa): "Tổng trách nhiệm của mỗi Bên theo Hợp đồng này không vượt quá [500.000.000 VNĐ] tương ứng [12] tháng phí gần nhất, trừ trường hợp cố ý hoặc vi phạm nghĩa vụ bảo mật. [CẦN LUẬT SƯ XÁC NHẬN con số và ngoại lệ]"
Dấu [CẦN LUẬT SƯ XÁC NHẬN] buộc con người kiểm tra đúng chỗ quan trọng.
Quy trình soạn thảo an toàn
- Xác định loại văn bản và mục tiêu (bảo vệ bên nào, đạt điều gì).
- Lấy mẫu chuẩn từ clause library phù hợp.
- Cung cấp ngữ cảnh (giá trị hợp đồng, mối quan hệ, đề xuất của luật sư).
- Sinh nháp với các chốt
[CẦN XÁC NHẬN]ở mọi số liệu/thời hạn/tên. - Kèm giải thích vì sao sửa như vậy (cho thư phản hồi).
- Người duyệt chỉnh và bỏ dấu
[CẦN XÁC NHẬN]khi đã kiểm tra. - Chỉ sau khi duyệt mới xuất bản/gửi.
Thư phản hồi đàm phán — ví dụ
Kính gửi [Đối tác],
Về Điều 12.3, chúng tôi đề nghị điều chỉnh trần trách nhiệm từ 1 tháng
lên 12 tháng phí. Lý do: giá trị hợp đồng năm là 500 triệu; trần 1 tháng
không tương xứng với mức độ phụ thuộc dịch vụ. [CẦN LUẬT SƯ RÀ giọng điệu]
Trân trọng.
Khung tư duy: DRAFT-GATE
DRAFT: agent sinh nháp từ mẫu đã duyệt.
MARK: đánh dấu mọi con số/thời hạn cần người xác nhận.
EXPLAIN: kèm lý do đề xuất.
GATE: người duyệt bắt buộc trước khi ra ngoài.
Checklist soạn thảo
- [ ] Soạn từ clause library đã duyệt, không từ trí nhớ model?
- [ ] Mọi số liệu/thời hạn/tên đều có dấu [CẦN XÁC NHẬN]?
- [ ] Có kèm lý do đề xuất (đặc biệt với thư đàm phán)?
- [ ] Nháp KHÔNG tự gửi ra ngoài trước khi người duyệt?
- [ ] Ghi rõ đây là NHÁP, không phải ý kiến pháp lý chính thức?
Sai lầm thường gặp
- Để model tự sáng tác điều khoản: dễ sinh cấu trúc pháp lý sai, thiếu ngoại lệ quan trọng.
- Không đánh dấu chỗ cần xác nhận: người duyệt lướt qua và bỏ sót số liệu sai.
- Gửi thẳng output cho đối tác: bỏ qua gate, rủi ro cực cao.
- Bỏ phần giải thích: thư đàm phán thiếu lập luận thì kém thuyết phục.
- Quên ngoại lệ (cố ý, vi phạm bảo mật): điều khoản giới hạn trách nhiệm thiếu ngoại lệ có thể bị vô hiệu hoặc gây bất lợi.